inle lake – Thả cuộc sống lững lờ trôi

Hồ Inle thường được chọn là điểm dừng chân cuối cùng trong chuyến hành trình dọc ngang lãnh thổ Burma. Hồ Inle nằm lọt thỏm trong ngọn đồi Shan nơi có rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Inle rộng 116 km vuông và nằm ở độ cao 880m. Tuy không phải là hồ với diện tích lớn nhất Burma nhưng Inle lại luôn được ưu ái chọn là nơi dừng chân của du khách.

Tôi đến hồ Inle sau chuyến bay sớm trong một buổi sáng mà Bagan tưởng chừng không thể nóng hơn được nữa. Cái nóng tháng 5 ở Burma kỳ lạ, len lỏi vào trong từng lỗ chân lông rồi như bùng lên, thiêu đốt từ bên trong. Những người bạn tôi gặp trên đường đến Inle đều tất thảy mong chờ những cơn gió, mong chờ cái nóng sẽ đi vắng, sẽ tan vào không khí mát mẻ ở vùng sông nước Inle.

Máy bay đáp ở sân bay Ho Hin cách Nyaung Shwe, thị trấn trung tâm của Inle 1 tiếng đồng hồ đi xe. Đang loay hoay đi tìm hành lý gửi thì tôi gặp vợ chồng anh bạn người Canada hỏi tôi có muốn cùng đi cùng xe về Nyaung Shwe không, và thế là nhanh chóng, chúng tôi gộp lại thành một nhóm 8 người và thuê chung một chiếc xe, kiểu giống xe lam bốn bánh của Việt Nam. Xe nhỏ và tồi tàn hơn, mỗi người đóng 4000 kyat và bắt đầu hành trình 1 tiếng đồng hồ về thị trấn. Đường từ sân bay về Nyaung Shwe nhỏ và xấu với những khúc quanh co lên xuống, vòng vèo quanh những ngọn đồi trọc. Sau những cú xóc nảy người lên tận nóc xe, chúng tôi lại lo lắng nhìn xuống mặt đường vì sợ hành lý trên nóc xe sẽ rơi xuống đất.

Nyaung Shwe là một thị trấn nhỏ với nằm bên ép mình bên bờ Inle. Sau một hồi đắn đo, tôi quyết định chọn một phòng đơn ở Little Inn Guest house với giá 5usd đã bao gồm ăn sáng. Little Inn nhỏ nhắn với khu vườn xinh xinh, nơi mọi người tụ tập ăn sáng hoặc nằm thư giãn trên xích đu mỗi tối uống trà và ngắm sao. Anh chủ nhà trọ hiếu khách với giọng cười vang to và ấm áp nhiệt tình chỉ dẫn cho chúng tôi những thông tin cần thiết, những địa điểm cần ghé thăm. Anh có một cô chắc là em gái, không nói được tiếng Anh và rất e thẹn, luôn ép mình sau cánh cửa nhìn khách ra vào và tủm tỉm cười. Khi tôi đòi được bôi thanaka (thứ bột làm từ thân cây mài ra, được các thiếu nữ Burma bôi lên mặt, vừa để làm đẹp, vừa chống nắng), cô chả nói năng gì, lặng lẽ bỏ vào buồng rồi lại xuất hiện trở lại nơi ngưỡng cửa, ra hiệu bảo tôi vào trong và thoa lên mặt tôi những vòng tròn thanaka mát lạnh, rồi lại chỉ tủm tỉm cười.

Sau khi tắm rửa, không cần nghỉ ngơi, tôi rủ James – anh bạn đi cùng ngay lập tức lên đường khám phá Inle. Chúng tôi quyết định ngay sẽ thuê thuyền đi vòng quanh hồ. Sau khi trao đổi, anh chủ nhà trọ thuê hộ chúng tôi chiếc thuyền máy với giá 12.000 kyat. Một lát sau, người lái thuyền xuất hiện và dẫn chúng tôi đi bộ ra bến thuyền.
Bến thuyền chỉ cách nhà trọ chúng tôi ở khoảng 10 phút đi bộ với hàng trăm chiếc thuyền nằm uể oải khắp bến sông vì đây là mùa thấp điểm. 12h trưa, cái nắng rọi thẳng ngay trên đầu, rọi xuống mặt nước hồ mênh mông trắng lóa. Nước hồ Inle trong như gương, nhìn thấy cả những cụm rong xanh dày đặc dưới mặt nước. Càng đi sâu vào trong hồ, tôi lại thấy càng nhiều những chiếc thuyền độc mộc nhỏ bé và bóng những người ngư dân hồ Inle với kiểu chèo thuyền bằng một chân độc đáo trong khi hai tay thì thoăn thoắt gỡ lưới, buông lưới.

Ông lái thuyền đưa chúng tôi vào sâu trong những ngôi làng nổi của dân hồ Inle. Chúng tôi ghé ngang qua một gia đình làm nghề dệt lụa. Dân hồ Inle dệt lụa bằng một chất liệu cực kỳ độc đáo là tơ từ thân cây sen. Trước cửa nhà có rất nhiều người phụ nữ lớn tuổi ngồi bẻ thân sen và làm đôi và chuốt lấy những sợi tơ mỏng manh để dệt lụa. Tất cả đều làm bằng tay và cực kỳ tỉ mỉ. Sau một hồi quan sát, chúng tôi ra trước cửa nhà ngồi nghỉ ngơi, ngay lập tức hai vợ chồng chủ nhà mang trà và bánh kẹo ra mời. Người Burma rất thích uống trà, có lẽ đây là thói quen từ thời còn là thuộc địa của Anh. Sau một hồi trò chuyện với chủ nhà về bóng đá Anh (vì James bạn tôi là người Anh và vì đàn ông Burma cực kỳ mê bóng đá), chúng tôi xin phép chủ nhà ra về. Tôi đòi ông lái đò đưa chúng tôi đi mua xì gà vì từ lâu tôi đã nghe đồn về xì gà hồ Inle nổi tiếng. Chúng tôi ghé vào gia đình làm xì gà trên hồ. Bước vào nhà, tôi choáng váng bởi mùi thơm phức từ những mẹt xì gà và bàn tay thoăn thoắt quấn từng điếu xì gà nhỏ ngay dưới sàn nhà. Bà chủ nhà mời tôi một điếu rồi tự tay châm lửa cho mình, vừa hút bà vừa giảng giải cho tôi về xì gà Inle. Xì gà Inle chỉ to bằng điếu thuốc là bình thường và là một hỗn hợp của thuốc lá, me, mật ong, chuối, rượu, muối, đường nâu cuốn trong lá thuốc lá trồng ở đỉnh núi gần đó. Khi hút có mùi thơm rất dễ chịu và vị ngọt đọng ở đầu lưỡi. Sau một hồi trò chuyện, chúng tôi lại được mời ra trước hiên nhà uống trà. Buổi chiều làm cho không khí trên hồ trở nên dịu mát, tôi ngồi ngắm những chiếc thuyền qua lại trên hồ và trò chuyện cùng vợ chồng chủ nhà và anh con trai nhút nhát, chỉ lén lút nhìn khách rồi đỏ mặt quay đi. Tôi cực kỳ yêu thích cái khoảnh khắc được ngồi ở đấy, lẫn vào trong những câu chuyện giản dị, lẫn vào những tiếng cười, lẫn vào vị trà thơm phức và lẫn vào trong làn khói xì gà hồ Inle ngọt ngào.

Ngoài tour đi thuyền trên hồ, khách đến Inle thường chọn tour trekking (đi bộ với người dẫn đường) đến các ngôi làng của người Shan hoặc ngôi làng Padaung của người dân tộc cổ dài nổi tiếng.Tuy nhiên, vì chúng tôi đến đúng vào mùa thấp điểm với nhiệt độ ban ngày quá cao nên anh chủ nhà trọ nhất quyết khuyên chúng tôi không nên chọn tour này. Sau một hồi cân nhắc, ngày hôm sau chúng tôi thuê hai chiếc xe đạp và tự khám phá vùng đất này. Chúng tôi đạp xe ngược về hướng những ngọn đồi để đi tìm những hang động mà cô bạn người Nhật lúc ngồi ăn sáng ở nhà trọ đã chỉ cho chúng tôi. Khoảng vài cây số đầu đường đi tuy không tốt nhưng khá bằng phẳng, tuy nhiên ngay khi vừa hết đường nhựa chuyển sang đường đất thì ôi thôi là dốc. Những con dốc không cao nhưng dài thoai thoải, nhiều đoạn chỉ còn nước dắt bộ. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ vừa đạp, vừa đi bộ, vừa nghỉ, chúng tôi lạc vào một ngôi làng của sư. Bóng áo đỏ thấp thoáng khắp mọi nơi. Ngôi làng này là nơi ở, sinh sống của các vị sư già và nơi học tập của các chú tiểu.

Trong làng này có hai cái hang động nằm ẩn sâu trong núi và được dùng làm thành nơi thờ Phật. Ở hang động đầu tiên, chúng tôi được sư thầy mời vào thăm quan và uống trà, nghỉ ngơi. Trong động có ba bức tượng Phật lớn được thờ cúng, vài thứ đồ dùng đơn sơ của sư thầy và căn bếp mộc mạc. Ngồi trong đấy chúng tôi chẳng muốn dời đi vì không khí trong động mát mẻ và yên tĩnh.

Sau khi chợp mắt một lúc, chúng tôi đi dọc theo con đường mòn lên đồi để đến hang động thứ hai. Tôi gặp một vị sư già sống ở căn nhà nhỏ bên sườn đồi, nhác thấy bóng chúng tôi từ xa, ông lập tức lấy đèn pin và dẫn chúng tôi đi vào trong hang. Khác với hang thứ nhất, hang này tối đen như mực, chúng tôi phải cầm đèn dò dẫm từng bậc thang đá mát lạnh để đi sâu vào trong lòng hang.

Sau chuyến thăm quan hang động đầy thú vị, vị sư già mời chúng tôi về nhà ông uống trà. Vào nhà, ông lục tìm cái khăn trải bàn cũ kỹ rồi lúi húi sắp xếp tất thảy những gì ông có trong căn nhà đơn sơ của mình và bày hết lên bàn mời chúng tôi. Có những quả chuối và táo nhũn hết một góc mà tôi đồ rằng ông cất để dành chưa dám ăn. Có những miếng quẩy cũ kỹ ông cẩn thận cất vào trong cái nồi nhỏ. Rồi ông pha trà và run rẩy rót vào những cái bát nhỏ cho chúng tôi. Ông tuyệt nhiên không một lời nào, chỉ liên tục mời chúng tôi đồ ăn thức uống rồi ngồi nhìn ra cửa, lặng yên. Chúng tôi cũng chẳng dám nói gì nhiều, chỉ giúp ông phân loại ra giữa một đống những gói nhỏ linh tinh đâu là cà phê, đâu là sữa, đâu là trà để bỏ vào từng hộp riêng. Và cứ thế, ngồi bên ông lặng lẽ mà buổi chiều của chúng tôi trôi qua xúc động vô cùng.

Không nhộn nhịp như Yangon, không đền đài chùa tháp như Bagan, hồ Inle níu chân du khách theo một cách rất riêng, nhẹ nhàng mà quyến luyến. Trên chuyến bay rời xa Burma, nhìn ngắm những dải đất nhỏ dần dưới cánh máy bay, tôi nghĩ phải nói làm sao, phải diễn tả làm sao cho các bạn của tôi về Burma đây? Về những con đường còm cõi, bụi mờ gập ghềnh xuyên dọc xuyên ngang đất nước, những con đường mà thi thoảng ghé mắt qua ô kính xe tôi chỉ thấy mép vực cách bánh xe một khoảng cách tí ti. Về những chiếc xe hơi cũ kỹ chạy long lên sòng sọc đến nỗi tôi không dám ngồi gần cửa sổ vì chỉ lo cửa sổ rơi ra, tôi cũng rơi ra nốt. Về tiếng kinh Phật vang dội giữa không gian lặng thinh Bagan trong buổi hoàng hôn, nhìn ngắm ánh ráng chiều quét vàng rực lên những ngôi đền cổ . Về tiếng móng ngựa gõ lọc cọc trên con đường nhỏ vào buổi sáng tinh sương yên ắng chở tôi đi đón mặt trời. Và trời ơi, làm sao để kể cho các bạn về những người dân Burma hiền hòa, tốt bụng, rộn ràng câu chào “Mingabalar”, sung sính “longi” trong mỗi bước chân kèm theo nụ cười “thanaka” tỏa nắng. Anh bạn tôi bảo, tả về Burma ư, đơn giản đó là những cảm xúc “không thể tả được thành lời”. Và riêng tôi đã định ngày quay trở lại nơi đây.

Khánh Linh