“Tối qua nằm ngủ, tôi lại mơ về Burma…”

Đã hơn một năm kể từ ngày tôi đến với Burma, vậy mà đến giờ, vẫn chưa thoát ra được cơn say nắng vật vờ ấy. Tôi yêu Burma đến ích kỷ, đến nỗi chỉ muốn giữ tình cảm ấy, ấn tượng ấy, kỷ niệm ấy cho riêng mình mà chẳng muốn thổ lộ ra với ai. Chỉ muốn lâu lâu trốn vào một góc nào đó trong một ngày yên tịnh mà đem cái ký ức đó ra nhấm nháp, một mình, và thấy lòng sao mà thanh thản thế…

Yangon – Thành phố của những mảng màu đối lập và cuộc gặp gỡ tình cờ

Tôi đến Yangon trong cơn ngái ngủ tột độ sau một đêm vật vờ ở sân bay Bangkok chờ chuyến bay nối. Ra khỏi máy, đón tôi đầu tiên chính là cái nắng nóng táp thẳng thừng vào mặt, choáng váng. Burma tháng 4, tháng 5 là mùa nóng nhất trong năm với nhiệt độ trung bình mỗi ngày tầm khoảng 45 độ, có hôm còn lên đến 48 độ. Cái nóng ở đây rất lạ kỳ, chen chúc vào từng lỗ chân lông, len lỏi vào cơ thể và thiêu đốt từ bên trong. Bức bối.
Nhà nghỉ Motherland Inn mà tôi đã đặt sẵn qua Internet phái hẳn một chiếc xe bus nhỏ cọc cạch và tồi tàn mà tôi thề là chẳng thể tồi tàn hơn được nữa ra sân bay đón khách. Ra khỏi sân bay, xe lao vào một con đường nhỏ toàn sỏi, vừa đi, vừa phát lên những âm thanh cọt kẹt của ốc vít và bù loong, nghe rất vui tai. Có lẽ chưa ở đâu nơi tôi từng đi qua mà lại có thật nhiều những mảng màu đối lập lạ lùng như ở thủ đô Yangon. Ở Yangon, xe máy là phương tiện cấm di chuyển trong thành phố, vì thế người dân hoặc là rất giàu để có thể sở hữu cho mình những chiếc ô tô riêng sang trọng, hoặc là giàu vừa vừa để lái những chiếc xe hơi mà ở nước khác chỉ có thể được nhìn thấy trong bãi rác ô tô (như chiếc xe bus đón tôi ở sân bay) hoặc là phải ngày ngày chen chúc, chật chội một cách khó tin trong những chiếc xe bus công cộng. Ở Yangon, một phút trước bạn vừa đi ngang qua những khu cư xá cũ kỹ với những mảng tường đen xì đầy bồ hóng và những gương mặt trẻ con lem luốc, lấp ló sau những ô cửa sổ tối mù thì không lâu sau đó lại sững sờ trước những khu nhà biệt thự, villa xanh mướt cây cối với tường rào bao quanh, hoành tráng. Ở Yangon, điện là một thứ cực kỳ xa xỉ. Mỗi ngày chỉ có điện khoảng 6 tiếng đồng hồ, tập trung từ tối đến đêm. Khu nhà nghỉ của tôi may mắn có máy phát điện nhưng không đủ để chạy máy lạnh, chỉ đủ để những cánh quạt quay lèo tèo, buồn bã. Buổi tối, thường thì đám khách trọ trong nhà nghỉ hay bắc ghế ra đằng trước đường ngồi tán chuyện bên những chia bia Mandalay nổi tiếng được ướp cả ngày nhưng chỉ hơi lành lạnh. Và buổi tối của ngày đầu tiên đó, tôi gặp James, anh bạn người Anh mà sau một vài câu chuyện đã quyết định đồng hành cùng với tôi trong chuyến đi 10 ngày sau đó, đến với những vùng đất xa hơn nữa ở Burma…

Bagan – Tiếng vó ngựa lúc bình minh và những lời kinh cầu buổi sớm mai trong vắt

Sau hành trình hơn 12 tiếng đồng hồ từ Yangon, tôi và James đến Bagan lúc trời tờ mờ sáng. Phương tiện di chuyển duy nhất ở bến xe không phải là xe bus, taxi hay xe ôm mà là…xe ngựa. Leo lên xe, chúng tôi lóc cóc mang vác hành lý về khu nhà nghỉ và hẹn cậu bé đánh xe ngựa đến đón và buổi sáng muộn hôm ấy.
Việc đầu tiên trong buổi sáng hôm ấy là nài nỉ James theo tôi ra chợ mua về chiếc longi (trang phục cổ truyền của người Burma) để mặc. James thấy tôi chọn lựa hăng say cũng ham hố mua 1 chiếc. Hai đứa hí hửng, xúng xính leo lên xe ngựa lọc cọc đi vào những ngôi đền. James sung sướng lắm, quay sang bảo tôi: “Lần đầu tiên tớ mặc váy mà không bị trêu chọc gì, sướng thế!”. Cậu bé đánh xe ngựa đưa chúng tôi đi vào ngôi đền đầu tiên, ở đây chúng tôi gặp một gia đình của những người thợ chuyên vẽ tranh bằng cát lên những mảnh vải trắng mỏng manh. Vừa nhác thấy bóng chúng tôi, cả nhà đã vội tản ra lấy chỗ cho chúng tôi thăm đền, một người trong số đó còn nhiệt tình cầm đèn pin giúp chúng tôi soi nhìn từng ngóc ngách.

Các ngôi đền ở Bagan thường được làm bằng gạch nung đỏ, thờ tượng Phật được tạc rất lớn ở bên trong. Sau khi giúp chúng tôi thám thính xong ngôi đền đầu tiên, cả gia đình nọ mời chúng tôi ngồi ngay xuống đất và bắt đầu giảng giải về ý nghĩa những ngôi đền thờ linh thiêng. Họ nhiệt tình mời chúng tôi uống những ly nước trà thơm phức và còn phái nhau chạy về nhà trong ngôi làng gần ấy mang ra một món ăn truyền thống của người Burma, làm từ đậu phộng và các loại rau trộn với nhau thành một món salad đặc biệt. Thân thiện và nhiệt tình một cách vô điều kiện đến nỗi, những ý nghĩ nghi ngại ban đầu tôi dành cho họ khiến sau này, mỗi lần nhớ lại tôi xấu hổ mãi không thôi.

5h sáng hôm sau, cậu bé đánh xe ngựa đã xuất hiện trước cửa phòng, lần lượt đánh thức tôi và James dậy để đi ngắm bình minh. Suýt nữa vì mê ngủ mà tôi bỏ lỡ buổi sáng ngày hôm ấy. Một buổi sáng kỳ diệu với khí trời mát mẻ tuyệt vời, tiếng vó ngựa đơn độc trên đường đưa chúng tôi quay lại khu đền mênh mông và tĩnh tâm hơn tất thảy là tiếng kinh Phật vang lên trên những chiếc loa treo cao trên những cành cây, chung quanh là những ngôi đền cổ xưa còn chìm trong sương sớm. Đời tôi, có lẽ chưa có giây phút nào lại cảm nhận được nhiều sự bình yên cô đọng lại ở chung quanh như thế…

Inle Lake – Tôi thả cuộc sống lững lờ trôi

Hồ Inle nằm lọt thỏm trong ngọn đồi Shan nơi có rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Vừa đến nơi, chúng tôi quyết định ngay sẽ thuê thuyền đi vòng quanh hồ. Bến thuyền chỉ cách nhà trọ chúng tôi ở khoảng 10 phút đi bộ với hàng trăm chiếc thuyền nằm uể oải khắp dọc bờ sông vào mùa thấp điểm. 12h trưa, cái nắng rọi thẳng ngay trên đầu, rọi xuống mặt nước hồ mênh mông trắng lóa. Nước hồ Inle trong như gương, tôi nhìn thấy cả những cụm rong xanh dày đặc dưới mặt nước. Càng đi sâu vào trong hồ, tôi lại thấy càng nhiều những chiếc thuyền độc mộc nhỏ bé và bóng những người ngư dân hồ Inle với kiểu chèo thuyền bằng một chân độc đáo trong khi hai tay thì thoăn thoắt gỡ lưới, buông lưới.

Tôi đòi ông lái đò đưa chúng tôi đi mua xì gà vì từ lâu tôi đã nghe đồn về xì gà hồ Inle nổi tiếng. Chúng tôi ghé vào gia đình làm xì gà trên hồ. Bước vào nhà, tôi choáng váng bởi mùi thơm phức từ những mẹt xì gà ngay dưới sàn nhà. Bà chủ nhà tươi cười mời tôi một điếu rồi tự tay châm lửa cho mình, vừa hút bà vừa giảng giải cho tôi về xì gà hồ Inle. Xì gà Inle chỉ to bằng điếu thuốc là bình thường và là một hỗn hợp của thuốc lá, me, mật ong, chuối, rượu, muối, đường nâu cuốn trong lá thuốc lá trồng ở đỉnh núi gần đó. Khi hút có mùi thơm rất dễ chịu và vị ngọt đọng ở đầu lưỡi. Sau một hồi trò chuyện, chúng tôi lại được mời ra trước hiên nhà uống trà. Buổi chiều làm cho không khí trên hồ trở nên dịu mát, tôi ngồi ngắm những chiếc thuyền qua lại và trò chuyện cùng vợ chồng chủ nhà và anh con trai nhút nhát, chỉ lén lút nhìn khách rồi đỏ mặt quay đi. Tôi cực kỳ yêu thích cái khoảnh khắc được ngồi ở đấy, lẫn vào trong những câu chuyện giản dị, lẫn vào những tiếng cười, lẫn vào vị trà thơm phức và lẫn vào trong làn khói xì gà hồ Inle ngọt ngào.

Ngày hôm sau chúng tôi thuê hai chiếc xe đạp và tự khám phá vùng đất này. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ vừa đạp, vừa đi bộ, vừa nghỉ, chúng tôi lạc vào một ngôi làng của sư. Bóng áo đỏ thấp thoáng khắp mọi nơi. Ngôi làng này là nơi ở, sinh sống của các vị sư già và nơi học tập của các chú tiểu. Trong làng có hai cái hang động nằm ẩn sâu trong núi và được dùng làm thành nơi thờ Phật. Chúng tôi đi bộ theo con đường mòn theo triền đồi đi tìm hang động. Đến cửa hang, tôi gặp một vị sư già sống ở căn nhà nhỏ bên sườn đồi, nhác thấy bóng chúng tôi từ xa, ông lập tức lấy đèn pin và dẫn chúng tôi đi vào trong hang. Hang đá này tối đen như mực, chúng tôi phải cầm đèn dò dẫm từng bậc thang mát lạnh để đi sâu vào trong lòng hang. Bóng tối mịt mùng xung quanh và cảm giác mát lạnh toát ra từ những phiến đá làm tôi vừa lo sợ, vừa phấn khích. Sau chuyến thăm quan hang động đầy thú vị, vị sư già mời chúng tôi về nhà ông uống trà. Vào nhà, ông lục tìm cái khăn trải bàn cũ kỹ rồi lúi húi sắp xếp tất thảy những gì ông có trong căn nhà đơn sơ của mình và bày hết lên bàn mời chúng tôi. Ông tuyệt nhiên không một lời nào, chỉ liên tục giục chúng tôi ăn uống rồi ngồi nhìn ra cửa, lặng yên về phía những quả đồi xa xa. Chúng tôi cũng chẳng dám nói gì nhiều, và cứ thế, ngồi bên ông lặng lẽ mà buổi chiều của chúng tôi trôi qua xúc động vô cùng.

Trên chuyến bay rời xa Burma, nhìn ngắm những dải đất nhỏ dần dưới cánh máy bay, tôi nghĩ, phải nói làm sao, phải diễn tả làm sao cho các bạn của tôi về Burma đây? Về những con đường còm cõi, bụi mờ gập ghềnh xuyên dọc xuyên ngang đất nước. Về tiếng kinh Phật vang dội giữa không gian lặng thinh Bagan trong buổi bình minh, hay khi nhìn ngắm ánh ráng chiều quét vàng rực lên những ngôi đền cổ . Về tiếng móng ngựa gõ lọc cọc trên con đường nhỏ vào buổi sáng tinh sương yên ắng chở tôi đi đón mặt trời. Và trời ơi, làm sao để kể cho các bạn về những người dân Burma hiền hòa, tốt bụng, rộn ràng câu chào “Mingabalar”, xúng xính “longi” trong mỗi bước chân kèm theo nụ cười tỏa nắng? Tối qua nằm ngủ, tôi lại mơ về Burma…

DSCN0110 DSCN0129 DSCN0135 DSCN0144 DSCN0208 DSCN0248 DSCN0252 DSCN0287 DSCN0356 DSCN0380 DSCN0414 DSCN0422 DSCN0445 DSCN0497 DSCN0521